Saturday, July 6, 2013

VIẾT CHO THÁNG 6


by Pham Tuong Van (Notes) on Wednesday, 5 June 2013 at 14:08


Đưa tay cho em nào nhắm mắt lại
mình đến thăm một quảng trường
Nơi 24 năm trước, những chiếc máy cán bột bằng thép
Cán nát hàng ngàn sinh viên...
Những chiếc bánh mằn thàu khổng lồ đã được lũ khát máu giành nhau liếm sạch trong đêm
chiếc bàn cán bột bóng lưỡng như gương
những lưỡi quỷ phần phật bay trong gió

Đi về đâu về đâu về đâu, những linh hồn va vào nhau trong bóng đêm kỳ vĩ Thiên An Môn?
Em hỏi một người lính:
- Sao lại cam tâm lái xe tăng nghiền nát đồng bào mình, những người đóng thuế nuôi anh?
- Tôi đã bị khoét mắt và đục hết não.
Em hỏi một người biểu tình với đôi chân giập nát:
- Sao chưa về cõi khác?
- Tôi đánh mất nhân dạng tôi trong ký ức người còn sống.

24 năm sau, hàng vạn đám mây, hàng vạn cơn mưa đã đổ xuống Thiên An Môn
Các sinh viên Bắc Kinh hôm nay “chẳng biết gì nhớ gì ngày này 24 năm về trước, họ gọi những người biểu tình hôm qua là những thành phần tạo phản và đáng bị như vậy.”*

Em không có gì để nói với họ, một dân tộc vĩ đại đã bị quỷ sứ đục mất ký ức lẫn linh hồn.
Hãy nhìn giới trẻ Trung Hoa hôm nay mà xem, rặt những trò lố: rồ dại, chém giết, chộp giựt, sến súa, khoe hàng...
Đó là cái giá phải trả cho sự khiếp nhược của những người bên ngoài Thiên An Môn 24 năm về trước
Khi họ thúc thủ trước cái ác.

Mắt chúng mình mọng đỏ
Đừng khóc cho Thiên An Môn đã qua
Mà hãy để dành trái tim cho những Thiên An Môn sắp tới
Những Thiên An Môn trong mỗi chúng ta
Khi nhân tính bên bờ vực thẳm

Trong mọi trường hợp
Sự tê liệt đáng sợ hơn cái ác.
Vì nó biến chúng ta thành đồ vật.

4/6/2013

-------------*
Trích 1 comment trên Face Book của tôi hôm qua.


Khác với sự im lặng ớn lạnh của Đại Lục, đêm 4/6/ 2013, 18.000 người Hong Kong đội mưa thắp nến tưởng niệm 24 năm vụ thảm sát Thiên An Môn. Cho dù sự hy sinh của các sinh viên năm xưa có vẻ như đang biệt tăm trong ký ức người Trung Hoa hôm nay, nhưng nhân loại sẽ tri ân các bạn, những người đã ngã xuống để thế giới thêm một lần nhận diện sự phi nhân dù nó có được che chắn bởi loại mặt nạ mĩ miều thế nào.

NỐI


Đất nối trời bằng mưa
Biển nối liền châu lục
Con người nối nhau bằng hơi thở.
Dù mắt không thấy, tai không nghe thì không khí và nước vẫn mang thông tin đi khắp mọi nơi...
Bạo tạo nên những xúc cảm nơi người khác, dù bạn không hề biết hay không muốn biết thì một lúc nào đó, sớm thôi, chúng vẫn quay trở lại len lỏi vào tim, phổi hay toàn bộ cơ thể bạn, qua việc bạn ăn uống hay hít thở.
Thật đấy.
Tin thì tin không tin thì thôi...

(SG. Mùa mưa đã trở lại rồi...)

CONNECTION

Earth joins sky by rain
Continents by oceans
Humans by breathes.
Though nothing seen, no sound heard,
Air and water transport news everywhere...
You creates feelings in others,
though you never know or don't want to know,
soon enough, they will be back
insert themselves in your heart, lung or body,
through your eating, drinking and breathing.
It's true.
believe it or not....

Translated by Châu Ái Phạm

Thursday, March 21, 2013

Yêu không nhất thiết phải thuộc về?

Không phải “chốn về”
Bà chủ nhà hàng L’en tête cứ tưởng Phương[1] là dân Nam Mỹ, đi bộ dọc khu Bùi Viện, các cô em xinh tươi vén váy cao cao, duỗi cặp chân trắng nõn mời chào anh bằng tiếng Nhật, ngồi với sinh viên, anh cool kiểu Đức. Tôi chọc: Rõ ràng anh không có bản sắc!

Anh hỏi lại: Bản sắc là gì?

Bản sắc là gì nhỉ, khi anh, một cành cây bị cắt khỏi gốc, gần 40 năm?
Năm 1972, bố anh, một nhà ngoại giao đưa cả gia đình từ Sài Gòn sang CHLB Đức, rồi sau 30/4/1975, họ rời tòa đại sứ, bất đắc dĩ trở thành người Đức.
Tôi xa Hà Nội 16 năm, vẫn nói "về Hà Nội" dù thủ đô của tôi ngày càng ít đẹp, thì Phương (cũng như Nam Phạm[2], một người Mỹ "giấy" mà tôi quen biết đang làm việc trong ngành tài chính ngân hàng ở Boston, MA) lại dùng đại từ chỉ hướng vận động khá trung lập: "trở lại Sài Gòn", "sang Việt Nam", chữ "về" được dùng để chỉ hướng ngược lại, nghĩa là nơi họ mang quốc tịch, như những người ngoại quốc.

Phương, Nam và hàng triệu người khác, họ thật sự lạnh lẽo hay chỉ là sự từ khước, trước những vướng mắc của lịch sử?

Không gọi Việt Nam là chốn về, sử dụng tiếng Anh nhiều hơn tiếng Việt, nhưng Nam dành hầu hết thời gian rảnh cho việc từ thiện, tìm nguồn đầu tư xây trường học cho trẻ em vùng sâu vùng xa, nhà ở cho người thu nhập thấp, cùng bè bạn cấp cả nghìn suất học bổng giúp học sinh nghèo những nơi địa đầu dải đất hình chữ S.
Phương sáng tác bằng ba thứ tiếng, nhưng tiếng Đức – ngôn ngữ mà anh hóm hỉnh gọi là “tiếng mẹ kế” có lẽ là hoàn hảo nhất. Anh nghiên cứu - giảng dạy ngôn ngữ và Đông phương học trường Bonn, chuyên viên các vấn đề kinh tế - xã hội Đông Nam Á cho một trung tâm, rảnh thì dịch thuật, giới thiệu văn học – văn hóa Việt Nam với công chúng Đức. Ngày bức tường Berlin sụp đổ, anh đứng ra tập hợp cả những tay viết bên bờ Đông, làm một tờ văn chương vượt lên những cách biệt, chắp nối phần nào tấm bản đồ văn học Việt từng rách nát vì chiến cuộc.

Phương tự thấy mình chẳng thuộc về nền văn hóa nào và vì vậy, anh nhìn Việt Nam an nhiên, thoải mái như mọi quốc gia ở châu Á, không ấm ức, không mắc nợ, không áp lực.
Tâm thức của họ giống như những người bạn ngoại quốc đã đến và trụ lại đây từ ngày “mở cửa”: TS Philippe Papin[3], TS Andrew Hardy[4],  GS. TS Peter Zinoman[5], Veronika Radulovic, William Smith[6], TS Thaveeporn Vasavakul[7] …
Những trí thức am tường văn hóa Việt, lặng lẽ, bền bỉ, như thể làm cho riêng họ nhưng lại làm được rất nhiều điều cho xứ sở này, trên mọi phương diện, từ văn hóa, xã hội cho đến kinh tế, phát hiện, gìn giữ những giá trị, mở cho sinh viên và các nhà khoa học một hướng tư duy, lặn lội, đem đến cho vùng sâu vùng xa những cơ hội rất thiết thực khi chúng ta bỏ mặc dân nghèo vất vưởng bên lề công nghiệp hóa hiện đại hóa...


Cá mập hay voi?
Dù thế, P.D., một vị khoa bảng có hạng ở Hà Nội vẫn phủ nhận: "Tôi chẳng tin vào những người ngoài, họ ngây thơ hoặc thực dụng!". Còn P.D, sau mấy công trình khoa học hoành tráng cấp nhà nước, ông về vườn uống rượu, trước những vấn đề hệ trọng, ông luôn im lặng.

P.D. không phải không có lý. Không ít công ty trong nước vài năm sau cái “bắt tay hợp tác” với các đại gia nước ngoài cay đắng giao toàn quyền kiểm soát cho đối tác sau cuộc đua không cân sức. Trong khi đó thì các Lục Vân Tiên ngây thơ của P.D luôn mang dáng dấp Donkihote. Họ bị cuốn hút kiểu exotic, yêu và ảo tưởng vào sự “thuộc về”.
Suki Alan, một phụ nữ nhân ái mà tôi đã gặp cách đây 12 năm, có chồng là giáo sư Việt Nam học nổi tiếng của Đại học Quốc gia Australia. Năm 1995, chị rời nước Úc, mang theo 2 đứa con nhỏ, sang Việt Nam phụ trách dự án hỗ trợ y tế cho bà mẹ và trẻ em vùng sâu vùng xa. Đồng nghiệp không ai quên được hình ảnh Suki địu đứa con 14 tháng tuổi trên lưng, đi bộ hơn 15 km đến những vùng hẻo lánh huyện Mèo Vạc, dưới cái nắng tháng 6. Suki kiên quyết chi tiền viện trợ mua xe cấp cứu, thiết bị cứu thương tại tuyến xã, thay vì tổ chức những hội thảo hay những chuyến tham quan xa xỉ cho cán bộ ngành y tế. Ba năm sau, tôi lại chứng kiến những giọt nước mắt cay đắng của Suki khi buộc phải chia tay Việt Nam vì “không hợp cơ chế”, còn nặng nề hơn một cuộc tình tan vỡ.

Quên đi những con cá mập, bỏ qua một bên những người ngoài "ngây thơ" như con voi trong cửa hàng gốm sứ, tuýp anh hùng hành động vì nôn nóng và áp đặt, những nhà quan sát ưa phán xét, những “người ngoài trầm lặng” mà tôi đề cập đến ở đây, càng ở đây lâu thì càng giống nhau một điểm: họ chỉ làm tất cả để mọi thứ trở nên "đỡ tệ hơn", chứ không ảo tưởng vào sự thay đổi tắp lự, thậm chí đó là nhận thức hạn hẹp hay thái độ kỳ thị của người trong cuộc. Họ không có "quyền lợi sát sườn", nên an nhiên trước một tiến trình vận động, dù là rất chậm.
Từ “người ngoài”, họ đã vượt qua cái tình yêu kiểu exotic, để nhập cuộc. Họ, những công dân toàn cầu, chẳng cam kết thề bồi "anh sẽ yêu em dài lâu, anh sẽ yêu em đậm sâu"..., họ làm nhiều hơn những gì mà công việc và đồng lương đòi hỏi, nhưng nếu nhiệm sở dời sang một quốc gia khác, họ sẽ yêu lại từ đầu, hội nhập một nền văn hóa mới,vừa tỉnh táo, vừa nồng nhiệt, y như với mảnh đất này.
Vậy thì đón nhận thay vì nghi kỵ, khi họ ở ngay đây, là cách ứng xử vừa văn minh, vừa thực tiễn. Vài thứ cực kỳ quan trọng trong đời sống của người Việt hôm nay chẳng phải do những công dân toàn cầu như Alexandre de Rhodes[8], Alexandre Yersin[9]... đem lại hay sao?

Câu chuyện của chàng hoàng tử thứ 5 và bài học của tôi

Tổ quốc là nơi tỏa bóng yên vui
Nơi nghĩ đến lòng ta yên tĩnh nhất
Nhưng nghĩ đến Người lòng tôi rách nát
Xin Người đừng trách giận, Việt Nam ơi
  (Lưu Quang Vũ)

Tôi không nồng nhiệt như Suki, cũng không an nhiên như Phương hay Nam.
Tôi thuộc về nơi này nên tôi có tâm cảm của người trong cuộc. Một thực tế phải đối diện là tôi làm được quá ít so với họ. Tôi đau đớn vì một em bé ngưng thở vì bị cô giáo dán băng keo vào miệng, bé gái bị cậu ruột chặt tay trên thớt, một bé trai bị cha ném vào đống lửa, tôi nổi điên trước những người lớn ác tâm và ngu xuẩn, nhưng tôi chẳng hành động gì ngoài việc bày tỏ thái độ. Nhưng những người ngoài mà tôi vừa kể, chẳng đời nào dừng lại ở đó, ít nhất là họ nghĩ ngay đến việc tìm một tổ chức tài trợ việc nối ngón tay và bác sĩ tâm lý để hàn gắn vết thương tâm trí cho các bé.

Suki, và một số người ngoài đến đây khi vừa “mở cửa”, họ đã tình nguyện “thuộc về” nhưng không thể trụ lại. Dù ngắn ngủi nhưng Việt Nam với họ mãi là nỗi ám ảnh, giống như đôi khi ta không thể nào hiểu nổi vì sao một tha nhân bé nhỏ và bình thường nhất lại khiến ta tổn thương nhiều đến thế. Đơn giản là ta đã dành tất cả cho họ, ta hiến tặng trọn vẹn trái tim mình, rồi đau lòng vì không được như ý.
Tình yêu, nếu dành trọn vẹn cuộc sống của chúng ta cho nó, hình như đều đem về ít nhiều cay đắng. Sự cay đắng ấy là phép thử, nếu bạn vượt qua, bạn sẽ ở một level khác và tạo ra một giá trị mới.

Chợt nhớ câu chuyện cổ tích tôi đọc từ bồi bé tí, kể về 5 hoàng tử muốn cứu cả vương quốc đang bị mụ phù thủy hóa phép biến thành đá, các chàng phải đi lên một ngọn núi để giải phóng con chim quý bị nhốt trong chiếc lồng vàng.
Năm chàng đi mãi thật xa tận cuối chân trời, họ dư thừa lòng dũng cảm nhưng bà tiên vẫn dặn họ rằng: “dù bất kỳ giá nào, cũng không được quay đầu lại”.
Chàng thứ nhất nghe một tiếng gầm của con mãnh thú, nhưng không nhìn thấy nó, chính điều đó khiến anh sợ hãi.
Chàng thứ hai vượt qua mãnh thú, nhưng bị lâu đài tráng lệ và tiếng hát ngọt ngào của bầy tiên nữ, nơi chàng được mời mọc làm quốc vương níu chân.
Chàng thứ ba không sợ hãi, không tham lam, nhưng lại nổi xung vì những tiếng chửi tục tĩu đằng sau lưng.
Chàng thứ tư thì chẳng dễ lung lay vì bất cứ điều gì, trừ tiếng kêu cứu thảm thiết của một em bé.
Cả bốn chàng đều hóa đá.
Chàng thứ năm vượt qua tất cả những điều trên, thả chim quý, giải lời nguyền cho cả vương quốc, nhưng chàng bỏ lại cả công chúa lẫn vương quốc cho bốn người anh của mình.

“Dù bất kỳ giá nào, cũng không được quay đầu lại”, câu nói ấy đang vang lên, nhắc tôi đừng để mình hóa đá, dù cuối cùng chẳng phải để thuộc về hay giữ lại bất cứ điều gì.
10/2009
 PHẠM TƯỜNG VÂN
===========================

1/Lê Trọng Phương M.A., nhà thơ, dịch giả, giảng viên Đại học Bonn, chuyên viên các vấn đề kinh tế - xã hội Đông Nam Á cho một trung tâm nghiên cứu Châu Á của chính phủ Đức.

2/ Nam Phạm MPA, chuyên gia cao cấp về quản lý ngân hàng và nhà nước, Thạc sĩ Quản lý Hành chính Công Đại học Harvard, từng giữ nhiều chức vụ quan trọng như chủ tịch Ủy ban Á Mỹ của Thống đốc bang Massachusetts, thành viên hội đồng quản trị Tổ chức Sáng kiến Phát triển Việt Mỹ…

3/GS.TS Philippe Papin, Nguyên Trưởng đại diện Viện Viễn Đông Bác Pháp tại Hà Nội với nhiều công trình sử học có giá trị về Hà Nội, như cuốn Histoire de Hanoï một cuốn sử Việt Nam tóm lược, song được viết lại với một cái nhìn mới mẻ, sắc bén, sau nhiều năm tìm tòi, tra cứu, qua các tài liệu thư tịch, những hiện vật, cũng như qua các đợt điền dã, anh còn đưa ra ánh sáng nhiều thông tin bổ ích cho giới nghiên cứu và những người làm về qui hoạch-kiến trúc cho thủ đô Hà Nội.

4/TS.Andrew Hardy: Nguyên Trưởng đại diện Viện Viễn Đông Bác Pháp tại Hà Nội, bên cạnh vai trò của một một chuyên gia chủ chốt trong dự án nghiên cứu bảo tồn Hoàng Thành Thăng Long, anh còn có công phát hiện và nghiên cứu Trường Lũy, một trong những công trình khảo cổ được CNN đánh giá "quan trọng nhất được phát hiện trong một thế kỷ qua tại VN".

5/GS.TS Peter Zinoman: Giáo sư khoa  khoa Sử, ĐH Berkeley, giới văn chương VN còn đến anh qua việc tìm ra những văn bản thất lạc của nhà văn Vũ Trọng Phụng từ một thư viện ở Pháp, ngoài ra anh còn tham gia chuyển ngữ và đưa tiểu thuyết Số Đỏ của nhà văn này đến công chúng Mỹ.

6/Veronika Radulovic: nhà phê bình Mỹ thuật, giảng dạy môn lịch sử mỹ thuật thế giới tại Đại học Mỹ thuật Việt Nam, chị là người trực tiếp đưa trào lưu nghệ thuật đương đại (Contemporary Art) vào Việt Nam dẫn dắt, nâng đỡ nhiều nghệ sĩ trẻ Việt Nam thực  nghiệm với nghệ thuật đương đại ở Việt Nam và thế giới

7/William Smith MA: chuyên gia xã hội học, cán bộ dự án của quỹ Ford. Từ năm 2005 đến 2009, anh đã vận động tài trợ hỗ trợ 111.600 USD cho dự án Quỹ bảo hiểm vi mô cho phụ nữ nghèo, hỗ trợ 105.500 USD cho Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo Thanh Hóa. Ngoài ra, anh còn tích cực phối hợp với các chương trình tài trợ khác của Quỹ Ford để giúp đỡ các dự án lồng ghép tăng thu nhập, giáo dục về chăm sóc sức khỏe sinh sản, HIV/AIDS với tổng ngân sách là 346,050 USD. 2009 anh rời nhiệm sở sang Indonesia sau khi quỹ Ford đóng cửa văn phòng đại diện tại Việt Nam.

8/ TS.Thaveeporn Vasavakul: chuyên ngành Đông Nam Á và Việt Nam học Đại học Cornell, Mỹ, chuyên gia tư vấn về cải cách hành chính, trưởng nhóm nghiên cứu về hành chính công và phát triển kinh tế tại Việt Nam – UNDP.

 9/Alexandre de Rhodes: nhà truyền giáo dòng Tên người Avignon và một nhà ngôn ngữ học. Ông đã góp phần quan trọng vào việc hình thành chữ quốc ngữ Việt Nam hiện đại bằng công trình Tự điển Việt-Bồ-La, hệ thống hóa cách ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự La tinh.

10/Alexandre Yersin: một bác sĩ và nhà vi khuẩn học người Pháp. Ông đã khám phá ra trực khuẩn gây ra bệnh dịch hạch, sau này được đặt theo tên ông. Ở tuổi 33, ông quyết định sống tại Việt Nam, và đã hoạt động tích cực để thành lập trường Đại học Y Hà Nội vào năm 1902 và là hiệu trưởng đầu tiên cho đến 1904.Yersin cũng là người mở đầu trong việc nhập cây cao su từ Brasil vào trồng tại Việt Nam. Ông là người đề nghị xây dựng một thành phố tại Tây Nguyên, nay là Đà Lạt